fbpx

KHÁI QUÁT VỀ MÙA SINH VÀ KHUYẾT HÀNH

Một năm đi qua lần lượt với 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông, mỗi mùa đều có sự thịnh vượng suy tàn của Ngũ hành. Mùa xuân Mộc thịnh, mùa Hạ Hỏa thịnh, mùa Thu Kim thịnh và mùa Đông Thủy thịnh.

Quy luật sinh khắc của Ngũ hành, khi Mộc thịnh thì Kim suy, Hỏa thịnh thì Thủy suy, Kim thịnh thì Mộc suy và Thủy thịnh ắt Hỏa suy. Bản mệnh con người cũng có Ngũ hành (năm sinh), nên sinh vào mùa nào đương nhiên sẽ chịu ảnh hưởng của sự thịnh vượng của hành trong mùa đó.

Thuyết “Được và lỗi mùa sinh”

Trong dân gian hay các thuật số vận trình con người, ta bắt gặp khái niệm “Được mùa sinh”. Đó chính là cách so sánh Ngũ hành bản mệnh của đương số với tháng sinh. Nếu Ngũ hành của bản mệnh được sinh vượng thì có nghĩa là đương số được mùa sinh, bản mệnh gia tăng phần tốt đẹp.

Trái lại, nếu Ngũ hành bản mệnh bị suy tử thì đương số bị lỗi mùa sinh, tức là bản mệnh bị giảm thiểu phần cát. Để xem “được hay lỗi mùa sinh”, người ta thường dùng bảng Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử để đánh giá bản mệnh có được sinh vượng, tướng hay bị khắc tù, tử..
BẢNG VƯỢNG, TƯỚNG, HƯU, TÙ, TỬ.

Bản mệnh Vượng Tướng Hưu Tử
KIM
MỘC
THỦY
Thu
Xuân
Đông
Tứ quý
Đông
Thu
Đông
Hạ
Xuân
Xuân
Tứ quý
Hạ
Hạ
Thu
Tứ quý

HỎA
THỔ
Hạ
Tứ quý
Xuân
Hạ
Tứ quý
Thu
Thu
Đông
Đông
Xuân

Ví dụ, nếu sinh vào mùa Thu, đương số người mạng Kim sẽ vượng, mạng Mộc sẽ tử vì vào mùa Thu Kim thịnh, Mộc suy.

Nếu sinh vào mùa Hạ, Hỏa thịnh, Thủy suy nên người mạng Hỏa đắc lợi, mạng Thủy khốn đốn.

Sinh mùa Xuân, Mộc thịnh, Kim suy nên người mạng Mộc vượng, Kim tử.

Tương tự sinh mùa Đông, Thủy thịnh, Thổ suy thì lợi cho người mạng Thủy, bất lợi người mạng Thổ.
Thuyết “Khuyết hành” Việc đánh giá vận số theo mùa sinh mang tính thiếu tích cực. Vì vậy, gần đây xu hướng cải tạo, vận mệnh con người theo phái khuyết hành nổi lên. Thuyết này cho rằng, dù “lỗi mùa sinh”, nếu biết sống theo đúng nguyên lý bổ sung hành khuyết thì cuộc đời vẫn cát tường. Ngược lại dù
“được mùa sinh” nhưng không biết cân bằng Ngũ hành được thì có thể gặp “hung nhiều cát ít”.

Về cơ bản người khuyết hành nếu:
Sinh mùa Xuân (tháng 1, 2): khuyết KIM và Thổ
Sinh mùa Hè (tháng 4, 5): khuyết THỦY và Kim
BẢNG NGŨ HÀNH KHUYẾT VƯỢNG THEO MÙA SINH

Mùa sinh tháng sinh hành vượng hành suy (khuyết)
Xuân
Hạ
Thu
Đông
1, 2, 3
3, 4, 5, 6, 9, 12
7, 8, 9
10, 11, 12
Mộc
Hỏa
Kim
Thủy
Kim
Thủy
Mộc
Hỏa

Chú ý: Mùa Hạ, người khuyết Thủy bị suy kiệt nhiều nhất bởi do mùa và cả tứ quý. Sinh vào các tháng tứ quý (3, 6, 9, 12) bị khuyết cả 2 hành.

Chữ hoa chỉ hành khuyết chính, nặng hơn
Sinh mùa Thu (tháng 7, 8): khuyết HỎA và Mộc
Sinh mùa Đông (tháng 10, 11): khuyết THỔ và Hỏa
Sinh tháng tứ quý (3, 6, 9, 12): khuyết THỦY và Mộc và dư Thổ (trong đó tháng 6 khuyết Thủy rất nặng nhất).

Bảng này cho thấy, một người có thể vừa khuyết Kim vừa khuyết Thổ hoặc vừa khuyết Hỏa vừa khuyết Mộc. Những người khuyết cả hai hành này, mức độ khác nhau: hành khuyết nhẹ, khuyết nặng.

Những người sinh tháng 3, 6, 9, 12 âm lịch (tháng tứ quý) là những người nhiều Thổ nhất, vì vậy họ là người khuyết Thủy. Sinh vào tứ quý, đánh giá mức độ hành khuyết rất phức tạp do tác động vượng khí của hành mùa đó.

Ví dụ, một người sinh tháng 12 âm lịch thuộc mùa Đông là khuyết Thổ và Hỏa. Nhưng vì sinh vào tháng tứ quý Thổ vượng nên chỉ còn khuyết Hỏa, ngoài ra tháng tứ quý lại khuyết Mộc và Thủy. Vì vậy, người này sẽ khuyết cả Mộc – Hỏa – Thủy, nhưng ở mùa Đông, Thủy Mộc vượng, nên người này chỉ khuyết hành Hỏa.

Một người sinh tháng 9 âm lịch thuộc mùa Thu: khuyết Hỏa – Mộc.
Nhưng vì sinh tháng tứ quý khuyết Mộc – Thủy, nên người này khuyết ba hành Hỏa – Thủy – Mộc. Song sinh mùa Thu, Thủy vượng, nên người này chỉ khuyết 2 hành Hỏa – Mộc.

Một người sinh tháng 6 âm lịch thuộc mùa Hè: khuyết Thủy và Kim.
Nhưng vì sinh tháng tứ quý khuyết Mộc – Thủy nên người này khuyết 3 hành: Thủy – Kim – Mộc. Thực tế sinh tháng tứ quý Kim vượng (tướng) nên người này chỉ khuyết hai hành Thủy – Mộc.

Một người sinh tháng 3 âm lịch mùa Xuân khuyết Kim và Thổ nhưng vì sinh tháng tứ quý khuyết Mộc Thủy, nên người này khuyết 4 hành Kim – Thổ – Mộc – Thủy. Mùa Xuân Mộc vượng, tháng tứ quý Thổ vượng, nên người này chỉ khuyết Kim – Thủy.

Quy luật về điều kiện vượng phát của các hành:
Theo lý luận phong thủy, hành Kim (tiền của) muốn vượng phát phải có Thổ (đất đai, nhà cửa, địa lý cát lợi) song phải đến năm Mộc hoặc đại vận Mộc mới phát lộc. Vì sao phải có Mộc hoặc đại vận Mộc mới phát lộc?

Vì sao phải có Mộc thì Kim mới vượng? Vì Thổ nếu tĩnh thì không sinh Kim được, phải có Mộc tác động khiến Thổ hoạt động. Mộc là chìa khóa để giải phóng Thổ, Thổ mới sinh ra Kim. Vì vậy, nhiều người có đất đai nhưng không biến thành tiền của, vì chưa đến vận Mộc (12 năm).

Hành khuyết là hành cứu nguy đối với bản mệnh. Đối với người có quá nhiều Kim, thì Kim là hung thần với họ, càng có nhiều Kim thì càng nguy hiểm. Song người khuyết Kim (sinh tháng 1, 2, 3) càng nhiều Kim càng tốt (càng cát lợi).Dước góc độ tâm linh và cả thực tế, phần lớn các hành cần là do cha, ông để lại. Có người để lại cho con đất đai, có người để lại cho con cây cảnh qúy giá, có người để lại cho con kim cương (Hỏa), có người đế lại cho con hồ ao, bể bơi, tàu thuyền, cổ phiếu (Thủy), lại có người để lại cho con vàng bạc (Kim). Nếu cha ông lúc chết không để lại gì cho con cháu, sau khi chết họ sẽ có “trách nhiệm” phù hộ để con cháu bổ sung hành khuyết của mình (với điều kiện bạn phải thờ cúng cha ông). Việc thờ cúng cha ông chính là sợi dây liên hệ giữa con cháu với họ thực hiện nốt nghĩa vụ này còn thiếu.
Bảng quy luật Ngũ hành vượng phát

Hành khuyết
muốn vượng
Hành cần Năm có hành tác động (mở khóa)
Kim
Hỏa
Thổ
Mộc
Phải đến năm hoặc đại vận
Mộc

Thổ
Mộc
Thủy
Hỏa
Thủy
Kim
phải đến năm hoặc đại vận Kim
phải đến năm hoặc đại vận
Thủy
phải đến năm hoặc đại vận Thổ
phải đến năm hoặc đại vận Hỏa

Hành khuyết đối với bạn là Cát thần, đồng thời cũng là Tài thần của bạn. Đối với người khuyết Hỏa, hành Hỏa chính là tiền của. Điều này có nghĩa là bạn càng có nhiều Hỏa bao nhiêu, bạn càng có nhiều tiền bấy
nhiêu, càng ít Hỏa bao nhiêu, càng ít tiền bấy nhiêu.

Người khuyết Hỏa về nguyên tắc là do không có Mộc hoặc có ít Mộc, thậm chí có Mộc không có hóa Hỏa vì không có “chìa khóa” hay “xúc tác” (hành khác tác động).

Cân bằng Ngũ hành Âm dương là nguyên tắc cơ bản để cải vận trong cuốn sách này. Vì vậy khi đã biết bản mệnh khuyết hành nào, bạn đọc hãy tìm đến phương pháp bổ khuyết, cách sống cho phù hợp. Đó chính là bí quyết thay đổi số phận tích cực nhất. Để biết cuộc đời khi nào có những thay đổi căn bản, cần tham khảo thêm quan hệ thời vận với mùa sinh. Nắm vững “Tứ thời vận” lớn trong mỗi đời người

Đời người thường xảy ra biết bao thăng trầm nhưng cơ hội để bạn có được thành công lại không nhiều. Vì vậy nếu biết phối hợp thời kỳ tốt đẹp của cuộc đời vào những việc trọng đại như hôn nhân, xin việc, chuyển ngành, mở mang cơ nghiệp, mua nhà cửa thì cuộc sống của bạn sẽ khá hơn. Thời vận đỏ chính là thời kỳ khí số của bạn đang sung mãn nhất.Người ta thường nói đến thời vận lúc trẻ, thời vận lúc thanh niên, thời vận lúc trung niên và thời vận khi về già. Tổng hợp cả bốn loại thời vận trên, chúng ta hãy gọi là “Tứ thời vận”, trong bốn loại thời vận ấy, giai đoạn nào của bạn là rực rỡ nhất? Đây là một bí mật lớn mới được tiết lộ.
Đó là mối quan hệ rất mật thiết giữa mùa sinh của một người, với bốn loại thời vận của người đó:
– Người sinh vào mùa Xuân (từ tháng Giêng đến tháng Ba) thuộc loại sơ niên vận (từ khi sinh ra đến năm 20 tuổi) vận số cực thịnh.
– Người sinh vào mùa Hạ (từ tháng Tư đến tháng Sáu) thuộc loại thanh niên vận (từ 20 đến 35 tuổi) vận số cực thịnh.
– Người sinh vào mùa Thu (từ tháng Bảy đến tháng Chín) thuộc loại trung niên vận (từ 35 đến 50 tuổi vận số tốt đẹp).
– Người sinh vào mùa đông (từ tháng Mười đến cuối tháng Chạp) thuộc loại vãn niên vận (từ 50 tuổi trở lên vận số tốt đẹp).

Nếu thời gian vận số tốt nhất của cả đời đến với bạn mà bạn biết nắm lấy cơ hội thì bạn sẽ gặt hái thành công, cần chú ý, nếu sinh vào tháng tứ quý, vận trình này sẽ đến chậm hơn bình thường.

Thí dụ bạn là người cầm tinh con Ngựa, được sinh vào mùa Hạ. Bạn thuộc loại vận số tốt nhất vào độ tuổi thanh xuân. Người sinh năm Ngọ có số vận đỏ vào năm Dần và năm Mùi trong khoảng thời gian của vận số tốt.
Những trường hợp khác bạn hãy tự khám phá, cần biết mọi thành công chỉ đến khi bạn nỗ lực phấn đấu không ngừng.

Bí mật về tháng sinh và tiền của

Trong Ngũ hành, Thủy được coi là tiền của. Nếu bạn sinh vào mùa Hè và các tháng Tứ qúy bị coi là khuyết Thủy. Nếu không được bổ sung đủ Thủy, khó tránh phải cảnh nghèo túng. Người sinh tháng Thủy (10,11), đặc biệt là tháng Tý (Thủy) không sợ nghèo túng suốt đời, nếu tiền vận vất vả, hậu vận rất nhiều tiền của, nhất là khi di chuyển đến phương vị Bắc (Thủy) hoặc Đông, Đông Nam (Mộc)


0703 85 85 82